Thứ bảy Ngày 15 Tháng 12 Năm 2018

Sẵn sàng với thay đổi thời tiết, ứng phó thông minh với khí hậu                               Sử dụng thuốc lá là nguyên nhân chính gây bệnh tim mạch

Tìm kiếm
Tin tiêu điểm
  • Ngày 19/10, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Bắc Giang tổ chức Chung kết Cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh 2018. Đến dự có đồng chí Trần Văn Tùng - Thứ trưởng Bộ KH&CN; đồng chí Lê Ánh Dương - Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện các Vụ, Viện (Bộ KH&CN); nhà khoa học trong và ngoài tỉnh; lãnh đạo một số sở KH&CN tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên…; đại diện lãnh đạo một số Sở, ban, ngành của tỉnh cùng một số doanh nghiệp.

  • Sáng ngày 01/10, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh Đoàn thanh niên tổ chức tổng kết và trao giải thưởng Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh Bắc Giang lần thứ XIV, năm 2018. Đến dự có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái cùng lãnh đạo các Sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh.

  • Nhằm biểu dương thành tích học tập của con em cán bộ công chức, viên chức và người lao động đồng thời, nâng cao nhận thức, trách nhiệm với sự nghiệp chăm sóc và giáo dục trẻ em, tối ngày 21/9, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh tổ chức Gặp mặt các cháu có thành tích cao trong học tập năm học 2017 - 2018 và trao quà Tết Trung thu năm 2018. Dự buổi lễ có các đồng chí trong Đảng ủy, lãnh đạo Sở, BCH Công đoàn Sở, BCH đoàn thanh niên cùng các cháu là con của cán bộ công chức, viên chức và người lao động Sở KH&CN.

  • Trong khuôn khổ chương trình của Liên Hợp quốc về “Hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn” chiều 15/8, đoàn cán bộ của Bắc Triều Tiên do đồng chí Yu Hua làm trưởng đoàn đã đến thăm và làm việc tại Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Giang. Tiếp và làm việc với đoàn có Giám đốc Sở KH&CN Nguyễn Đức Kiên, cùng các Phó giám đốc: Ngô Chí Vinh, Nguyễn Văn Xuất, Nguyễn Phúc Thương và một số phòng, đơn vị liên quan.

  • Sáng ngày 16/8, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội đồng nghiệm thu đề tài khoa học cấp tỉnh đã thành lập hội đồng nghiệm thu đề tài khoa học cấp tỉnh “Nghiên cứu nồng độ của Brain natriuretic peptid (BNP) huyết tương ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối thận nhân tạo chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang” do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang chủ trì thực hiện từ 1/2017 đến tháng 6/2018 với tổng kinh phí 222 triệu đồng.
Xem thêm
Liên kết

Thống kê lượt truy cập
+ Hiện tại: 12
+ Hôm nay: 181
Tổng số lượng truy cập
3.985.566
TAGS
Tags not found
Bộ KH&CN
Cục thông tin KH&CN
Tạp chí Hoạt động khoa học
Cổng thông tin ĐTBG
Công báo Bắc Giang
Thư điện tử
Địa danh - Du lịch
(12/05/2018 14:55:30)
×
Một số từ viết tắt trên Website:
Từ được viết tắt
Từ viết tắt
Bộ Chính trị BCT
Ủy viên Bộ Chính trị UVBCT
Ủy viên Trung ương Đảng UVTW
Thông tin và Truyền thông
TT&TT; MIC
Văn bản Quy phạm pháp luật
VBQPPL
Văn bản Chỉ đạo điều hành
VBCĐĐH
Văn bản pháp luật
VBPL
Công nghệ thông tin
CNTT
Bưu chính – Viễn thông
BCVT
Công nghệ thông tin – Truyền thông
CNTT-TT; CNTT&TT; ICT
Ứng dụng công nghệ thông tin
ƯDCNTT
Phát thanh truyền hình
PTTH
Thủ tục hành chính TTHC
Thủ tướng TTg
Trung ương TW; TƯ
Phát thanh truyền hình và thông tin điện tử PTTH&TTĐT
Tổ chức liên minh bưu chính thế giới UPU
Tổ chức liên minh viễn thông quốc tế ITU
Thành phố TP.
Hoạt động nghiên cứu - ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật khoa học và công nghệ đóng góp cho sự phát triển lĩnh vực trồng trọt

Khoa học và công nghệ (KH&CN) ngày càng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hầu hết các nội dung KH&CN triển khai trên địa bàn đều thông qua các đề tài, dự án KH&CN. Các đề tài, dự án KH&CN được thực hiện ở nhiều cấp độ khác nhau như đề tài, dự án cấp nhà nước, cấp tỉnh, cấp cơ sở… Đối với ngành nông nghiệp, các tiến bộ kỹ thuật của ngành KH&CN đã góp phần quan trọng vào việc thay đổi cơ cấu, tập quán và tăng hiệu quả sản xuất.

Đối với lĩnh vực trồng trọt, KH&CN với tiến bộ về giống đã góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp của tỉnh theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, thể hiện qua sự hình thành và mở rộng quy mô nhiều vùng sản xuất hàng hóa mang tính tập trung cả về diện tích lẫn sản lượng.

Với cây lúa: Các giống lúa lai (Nhị ưu 838, Bắc ưu 903, Bắc ưu 64, TH3 - 3…), lúa lai hai dòng TH3 - 3, TH3 - 4…, lúa thuần (ĐV108, Q5, Xi23, NX30…); lúa cạn CH5; nghiên cứu và áp dụng công nghệ sản xuất hạt lúa lai F1 thành công giống lúa Việt lai hai dòng và giống lúa  lai ba dòng LC25; các giống ngắn ngày chất lượng cao, kháng giầy nâu rày nâu như: HĐT8, ĐS1, QR1, RVT, VS1,

Biện pháp kỹ thuật được áp dụng: Kỹ thuật làm mạ che phủ nilon; canh tác SRI, 3 giảm 3 tăng đã góp phần mở rộng diện tích hình thành vùng lúa chất lượng  điển hình là huyện Lạng Giang, Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hoà, Tân Yên... góp phần đưa năng suất lúa trung bình đạt 50 – 55 tạ/ha, nhiều vùng đã đạt năng suất 57 tạ/ha trên diện rộng.

Cây lạc: Nhiều giống lạc mới như: LD14, MD7, L23 L26, Lạc đen Đài Loan. Việc trồng các giống lạc mới bằng kỹ thuật che phủ nilon đã tạo ra bước đột phá về năng suất (25-28% tạ/ha, tăng 35% - 50% so với giống đối chứng). Khôi phục và bảo tồn nguồn gen lạc đỏ Bắc Giang, mang lại hiệu quả cao. Đã hình thành một số vùng san xuất lạc hàng hóa lớn ở các huyện Tân Yên, hiệp Hoà, Yên Thế, Lục Nam và Lạng Giang. Đặc biệt đã hình thành vùng sản xuất lạc giống tập trung tại các xã: Ngọc Châu, Phúc Son, Cao Thượng, Lam Cốt, Ngọc Vân huyện Tân Yên, xã Bắc Lý huyện Hiệp Hòa, trong đó, đã xây dựng được thương hiệu lạc giống Tân Yên có thị trường tiêu thụ ổn định.

Biện pháp kỹ thuật áp dụng: Phủ nilon cho lạc và trồng lạc hai hàng (luống nhỏ), năng suất tăng từ 35-50% so với không che phủ; kỹ thuật trồng lạc che phủ bằng vật liệu hữu cơ (rơm rạ) cho hiệu quả cao và đã được phổ biến  rộng rãi trong vụ lạc đông. Với biện pháp che phủ nilon mang lại hiệu quả cao trong sản xuất, đến nay nông dân đã và đang áp dụng rộng rãi cho nhiều loại cây trồng khác (dưa, rau các loại...)

Cây đậu tương: Đã khảo nghiệm và đưa vào ứng dụng sản xuất, các giống đậu tương có năng suất, thích ứng rộng, chịu hạn như DT 96, DT99, DT93, DT84 đưa vào gieo trồng qua các năm. Những giống mới đã đạt năng suất 18,5 tạ/ha.

Cây khoai tây: Sản xuất khoai tây giống Diamant, Atlantic, Solara bằng công nghệ khí canh, nhà màn do Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN thực hiện, năng suất trung bình gần 16 tấn/ha, (tăng 20% so với canh tác truyền thống của người dân), thu nhập 190-220 triệu đồng/ha. Xây dựng thành công mô hình sản xuất khoai tây thương phẩm bằng giổng khoai tây Melanto Hà Lan (nhập khẩu), năng suất đạt 20- 22 tấn/ha tại xã Bảo Đài, huyện Lục Nam và xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang với quy mô 10ha. Năm 2018 tiếp tục mở rộng diện tích trồng các giống khoai tây nhập khẩu từ Hà Lan, Pháp với quy mô 150ha tại các huyện Tân Yên, Lạng Giang, Việt Yên và huyện Yên Dũng.

Cây rau, màu thực phẩm: Đã ứng dụng tiến bộ KH&CN sản xuất cà chua bi, dưa chuột bao tử, các giống dưa mới...theo tiêu chuẩn VictGAP. KH&CN đã góp phần hình thành vùng rau chế biến hàng hóa tập trung ở một số huyện như: Lạng Giang, Tân Yên, Lục Nam, Yên Dũng và thành phố Bắc Giang. Trong tổ chức sản xuất, đã thực hiện việc liên kết khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ; có sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà quản lý và người nông dân.

Sản xuất nấm: Nấm rơm, cho thu nhập 180 triệu - 200 triệu đồng, trừ chi phí lãi 80 triệu - 110 triệu đồng; mô hình sản xuất nấm sò, cho thu nhập 780 triệu đồng, trừ chi phí lãi 390 triệu đồng; mô hình nấm mỡ, cho thu nhập 415 triệu đồng trừ chi phí lãi 166 triệu đồng; mô hình nấm mộc nhĩ, cho thu nhập 1,3 tỷ đồng, trừ chi phí lãi 630 triệu đồng. Hiện nay, sản xuất giống và nuôi trồng một số giống nấm cao cấp mới như nấm đùi gà trong nhà lạnh, nấm chân dài trong điều kiện tự nhiên, nấm Kim Phúc là những loại nấm có năng suất, chất lượng đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần mở rộng đối tượng trồng nấm của tỉnh.

Cây ăn quả: KH&CN đóng góp lích cực trong việc hình thành vùng chuyên canh cây ăn quả với diện tích trên 48.000ha và tập đoàn cây ăn quả đa dạng. Cơ cấu cây ăn quả chủ lực hiện nay vẫn là nhãn, vải chiếm 80,8% tổng diện tích cây ăn quả. Đặc biệt, cơ cấu giống vải đã được thay đổi đáng kể, tăng diện tích vải chín sớm, giảm diện tích vải chính vụ bằng kỹ thuật ghép cải tạo, giúp kéo dài thời gian thu hoạch vải từ 35 ngày lên 70 ngày/năm. Áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quy trình VietGAP, GlobalGAP trong canh tác cây ăn quả như: Bưởi Hiệp Hòa; cam sạch bệnh bằng giống V2, CS1, vải thiều. Các tiến bộ về giống và biện pháp canh tác theo GAP đã góp phần tăng giá trị từ 20-30% so với giống cũ và biện pháp canh tác của dân. Đặc biệt là nhóm cây có múi được mở rộng diện tích sản xuất: Bưởi Diễn (500ha) tập trung nhiều ở Hiệp Hòa, Lục Ngạn, cam Đường Canh (540ha), cam Vinh (290ha) tập trung nhiều ở Lục Ngạn, bưởi đỏ Hòa Bình (30ha), ổi OLĐ - Đài Loan (30ha) được trồng tại huyện Tân Yên, vùng tập trung vú sữa tại xã Hợp Đức - Tân Yên. Nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng trong canh tác cây ăn quả như xây dựng vườn ươm giống cam sạch bệnh bằng giống V2, CS1, các tiến bộ kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng cây cam Đường Canh trên địa bàn huyện Lục Ngạn, công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel áp dụng cho chè, cam...

Các giống hoa chất lượng cao: Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để sản xuất hoa chất lượng cao trong nhà lưới điều khiển tự động tại thành phố Bắc Giang: Hoa lay ơn, hoa Lily, lan Hồ Điệp...; Các giống hoa đào mới: Đào Bích GL2-1, đào Phai GL2-2, đào Bạch GL2-3 trồng tại thànli phố Bẳc Giang cho hiệu quả kinh tế cao, thu nhập thuần 650 - 800 triệu đồng/ha/năm.

Cây chè: Việc đưa các dự án trồng chè giống chè mới: LDP1, PH1, Bát Tiên, Phúc Vân, Yên Thế đã hình thành một phương thức nhân giống bằng hom thay thế cho trồng chè bằng hạt. Từ những mô hình trình diễn nhỏ lẻ, đến nay việc trồng chè bằng cành giâm hom đã trở thành nhu cầu cần thiết đổi với người dân vùng chè địa phương.

Cây lâm nghiệp: Ứng dụng tiến bộ KHKT tiến hành nhân giống bạch đàn lai UP35, UP54, UP72, UP99, UP95 bằng phương pháp nhân giống vô tính, nhân giống keo tai tượng bằng phương pháp ghép. Các giống mới sinh trưởng và phát triển tốt hơn các giống cũ 15-20%, thân thẳng ít phân cành nhánh, ít nhiễm sâu bệnh cho năng suất, chất lượng cao, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân trồng rừng. Trồng thâm canh rừng kinh tế bằng giống keo tai tượng xuất xứ Pongaki; giống bạch đàn lai UG24 và UG54.

Biện pháp kỹ thuật: Nhân giống bằng phương pháp ghép, giâm hom và giâm cành được triển khai mạnh trong các dự án ứng dụng, thay thế kỹ thuật chiết, gieo hạt (kỹ thuật ghép mắt, ghép nêm, vi ghép đỉnh sinh trưởng); kỹ thuật nhân giống cây; kỹ thuật đốn tỉa cành... được áp dụng phổ biến góp phần tăng năng suất và hiệu quả sản xuất. Đặc biệt, kỹ thuật nhân giống cây lâm nghiệp bằng phương pháp giâm hom tạo bước đột phá.

Cây dược liệu: Hình thành vùng sản xuất dược liệu áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quy trình GACP - WHO trong trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản. Các mô hình trồng nghệ với quy mô 70ha, cây ba kích 30ha, cà gai leo 05ha, sâm cau, ngưu tất, nấm linh chi và sâm nam núi Dành, trà hoa vàng... đã và đang được triển khai trên địa bàn huyện Son Động, Lục Nam, Yên Thể và huyện Tân Yên.

Để tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, thời gian tới, tỉnh cần có cơ chế chính sách khuyến khích nghiên cứu khoa học và ứng dụng nhanh tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sinh học, nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, bảo quản, chế biến nông - lâm sản chủ lực của vùng…; những nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật thành công cần được hỗ trợ chuyển giao vào sản xuất ra diện rộng; ưu tiên cho những dự án tạo ra sản phẩm cụ thể góp phần tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích, tăng khả năng cạnh tranh; ưu tiên cho những nghiên cứu, ứng dụng góp phần cải thiện đời sống vùng dân cư nghèo, đặc biệt khó khăn...; tiếp tục già soát, bổ sung chiến lược về KH&CN phù hợp với qui hoạch phát triển của ngành, tỉnh để thực hiện…/.

Huyền Trang