Thứ hai Ngày 23 Tháng 10 Năm 2017

Nhiệt liệt chào mừng 56 năm ngày thành lập ngành khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Giang (1961-2017)!

Tìm kiếm
Tin tiêu điểm
Xem thêm
Liên kết

Thống kê lượt truy cập
+ Hiện tại: 23
+ Hôm nay: 96
Tổng số lượng truy cập
2.651.789
Bộ KH&CN
Cục thông tin KH&CN
Cổng thông tin ĐTBG
Công báo Bắc Giang
Thư điện tử
Địa danh - Du lịch
Lịch sử phát triển

50 NĂM – HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH QUA CÁC THỜI KỲ

Với 50 năm xây dựng và phát triển, ngành KH&CN của tỉnh đã trải qua những mốc thời gian đáng ghi nhớ sau:

1- Ngày 19/10/1961 Ban Kỹ thuật (KT) tỉnh Bắc Giang được thành lập theo Quyết định số 361QĐ-TCCB của ủy ban hành chính (UBHC) tỉnh: là cơ quan quản lý tổng hợp về mặt kỹ thuật, có nhiệm vụ giúp Tnh ủy và UBHC lãnh đạo công tác khoa học kỹ thuật và lãnh đạo phong trào sáng kiến, phát minh của quần chúng nhằm phục vụ cho việc thực hiện kế hoạch Nhà nước:

2- Ngày 01/4/1963 đổi tên Ban KT tỉnh Bắc Giang thành Ban KT tỉnh Hà Bắc (thi hành Nghị quyết của Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hoà, hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh hợp nhất thành tỉnh Hà Bắc. Trụ sở các cơ quan tỉnh Hà Bắc, trong đó có Ban KT tỉnh đặt tại thị xã Bắc Giang).

3- Ngày 13/5/1963 Ban KT tỉnh đổi thành ban Khoa học kỹ thuật (KHKT) tỉnh (Thực hiện Thông tư Liên bộ số 66/TTLB giữa UBKH Nhà nước và Bộ Nội vụ). Tiến hành chức năng công tác quản lý tổng hợp về KHKT địa phương.

4- Ngày 02/8/1967 thành lập Phòng Đo lường- Tiêu chuẩn (theo Quyết định số 101/TC Của UB HC tỉnh) thuộc Ban KHKT tỉnh quản.

5- Ngày 09/8/1970 Hội phổ biến KHKT hợp nhất vào Ban KHKT tỉnh theo Nghị quyết số 114/NQ-TU của Tỉnh uỷ Hà Bắc.

6- Ngày 23/4/1985 Ban KHKT đổi tên thành Uỷ ban KHKT (UBKHKT) Hà Bắc theo Quyết định số 237/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh.

7- Ngày 10/6/1985 UB KHKT là cơ quan thường trực của Hội đồng KHKT tỉnh được thành lập theo Quyết định số 341/QĐ-UB của UBND tỉnh.

8- Ngày 23/9/1986 Thành lập Chi cục - Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng thuộc UB KHKT tỉnh theo Quyết định số 655/QĐ-UB của UBND tỉnh.

9- Ngày 25/10/1986 UBKHKT tỉnh đổi tên thành Ban KH&KT theo Nghị quyết số 13/NQ-TU của Tỉnh ủy Hà Bắc.

10- Ngày 18/7/1989 Thành lập Trung tâm ứng dụng và dịch vụ KHKT thuộc Ban KH&KT tỉnh theo Quyết định số 515/QĐ-UB của UBND tỉnh:

11- Ngày 05/5/1994 thành lập Sở KHCN&MT tỉnh Hà Bắc trên cơ sở Ban KH&KT tỉnh theo Quyết định số 62/QĐ-UB của UBND tỉnh Hà Bắc.

12- Ngày 01/01/1997 tỉnh Hà Bắc tát lập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh theo Nghị quyết của kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá 9 ngày 06/11/1996. Và ngày 15/3/1997 UBND tỉnh Bắc Giang có Quyết định số 248/UB ban hành bản quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy và mối quan hệ công tác của Sở KHCN&MT Bắc Giang.

13- Ngày 18/11/1997 Trung tâm tư vấn và dịch vụ (TTTV&DV) KHCNMT thuộc Sở KHCN&MT được thành lập theo Quyết định số 493/QĐ-UB của UBND tỉnh Bắc Giang.

Nhìn lại 50 năm qua, gắn liền với lịch sử đất nước và dân tộc qua những thời kỳ. Ngành KHCN&MT Bắc Giang đã từng bước được xây dựng và phát triển:

I-THỜI KỲ 1961-2011 RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH GÓP PHẦN VỪA XÂY DỰNG, VỪA CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ MIỀN BẮC, GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC.

1- Đặc điểm tình hình và công tác tổ chức

- Ngay từ khi nhân dân miền Bắc nước ta bắt tay vào thực hiện kế hoạch 3 năm (1958-1960) nhằm cải tạo xây dựng kinh tế và phát triển văn hoá nhằm xáy dựng CNXH ở miền Bắc, làm cơ sở cho cho đấu tranh thống nhất nước nhà, Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ: KHKT đã trở thành nhu cầu cấp chiết của nhân dân lao động. Ngày 11/3/1959 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 105/TTg về việc thành lập Ban kỹ  thuật (KT) ở các khu, tỉnh, thành phố. Sau đó là Chỉ thị số 133/TC-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 13/3/1959 nhắc nhở các cấp uỷ thi hành Chỉ thị 105/TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 300/KH của Uỷ ban khoa học nhà nước hướng dẫn về tổ chức Ban KT.

- Thi hành các Chỉ thị của Đảng và Chính phủ, Ban thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang đã ra Nghị quyết và UBHC tỉnh ra Quyết định số 36/QĐ-TCCB ngày 19/10/1961 thành lập Ban KT tỉnh với nhiễn vụ giúp Tnh uỷ và UBHC tỉnh lãnh đạo công tác KHKT và lãnh đạo phong trào sáng kiến, phát minh của quần chúng nhằm phục vụ cho việc thực hiện kế hoạch nhà nước.

- Ban KT tỉnh do ông Ngô Duy Phương - Chủ tịch UBHC tỉnh làm Trường ban, ông phạm Các -Trưởng ty nông nghiệp tà phó Ban và 12 thành viên là các trưởng hoặc phó các ty của tỉnh là uỷ viên. Thường trực Ban là các ông Ngô Duy Phương, ông Phạm Các và ông Hoàng Nhu. Sau đó, ngày 23-6- 1962, UBHC tỉnh lại có Quyết định số 555/QĐ-TCCB cử ông Thanh Sơn, Phó Chủ tịch UBHC tỉnh thay ông Ngô Duy Phương, làm Trưởng Ban KT tỉnh Bắc Giang.

- Ngoài Ban KT tỉnh là cơ quan quản lý tổng hợp về mặt kỹ thuật còn có Hội phổ biến KH&KT-BNH, có tổ chức rộng dãi hơn từ Trung ương đến cơ sở (xã, cơ quan, trường học). Ở tỉnh, Hội phổ biến KH&KT được thành lập từ năm 1962 (Sau Ban KT tỉnh 1 năm) do ông Thanh Sơn - Tỉnh uỷ viên, uỷ viên thường trực UBHC tỉnh là Hội trưởng, ông Đặng Trần Vĩnh - Phó ty nông nghiệp và ông Đỗ Văn - Phó ty tế là hội phó và 28 uỷ viên.

- Thi hành Nghị quyết của Quốc hội Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh hợp nhất thành tỉnh Hà Bắc và bắt đầu làm việc theo tỉnh mới từ ngày 01/4/1963. Các cơ quan của tỉnh Hà Bắc đều tập trung làm việc tại thị xã Bắc Giang.

- Thực hiện Thông tư Liên bộ số 66/TTLB giữa UBKH Nhà nước và Bộ Nội vụ ngày 13/5/1963 Ban KT tỉnh đổi tên thành Ban Khoa học Kỹ thuật (KHKT) tỉnh, thực hiện công tác quản lý tổng hợp về KHKT đa phương. Ban KHKT vẫn là tổ chức Liên hiệp (Uỷ viên hội) do ông Phạm Văn Quyện - Phó bí thư tỉnh ủy làm Trưởng ban, ông Lương Ngọc Chức Nguyên phó ban KT tỉnh Bắc Ninh và ông Ngô Như Toàn - tỉnh uỷ viên - Phó ty nông nghiệp làm phó Ban và 10 uỷ viên là trưởng hoặc phó ty, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh. Cơ quan thường trực hay còn gọi là văn phòng gồm có 6 người làm nhiễn vụ thường trực của Ban KHKT và Hội phổ biến KHKT (gọi tắt tà Ban và Hội). Và trước khi hợp nhất 2 tỉnh, Ban KT Bắc Giang chỉ có 01 cán bộ chuyên trách văn phòng.

Ban chia ra 3 tiểu Ban: Tiểu Ban Nông - lâm nghiệp,Tiểu Ban Công nghiệp, Tiểu Ban Khoa học đời sống.

- Từ năm 1965 đến trước ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/197S), miền Bắc không những phải tăng cường chi viện nhân lực và vật lực cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, mà còn phải vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa phát triển sản xuất, đảm bảo đời sống, tăng cường tiềm lực kinh tế và quốc phòng.

- Trong hoàn cảnh đó, ngày 01/9/1966 Hội đồng Chính phủ ra Chỉ thị số 163?CP về phương hướng nhiệm vụ công tác nghiên cứu KH&KT 2 năm 1966 -1967, Ban Bí thư Trung ương ra Nghị quyết định số 57/NQ- TW ngày 22/2/1967 về tăng cường công tác nghiên cứu KHKT trong tình hình và nhiệm vụ mới.

- Tuy hoạt động trong điều kiện chiến tranh gặp rất nhiều khó khăn, song được Đảng và Nhà nước quan tâm, các cơ quan KHKT từ Trung ương đến địa phương được tăng cường về số lượng và chất lượng.

- Ở tỉnh ta, sau khi có Nghị quyết số 62/NQ-HB ngày 02/5/1967 của Ban thường vụ Tỉnh ủy Hà Bắc và ngày 02/8/1967 Ban thường vụ lại có Nghị quyết Số 253/NQ-HB về kiện toàn Ban KHKT tỉnh: ông Hoàng Văn Tiệm- Uỷ viên ban thường vụ tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBHC tỉnh làm Trưởng ban, 2 phó Ban và 11 uỷ viên kiêm nhiệm.

- Ban KHKT:được tổ chức thành những bộ phận giúp việc gồm: Phòng Đo lường và Tiêu chuẩn, Phòng hoá nghiệm, Tiểu ban nông nghiệp, Tiểu ban công nghiệp và Tiểu ban  tổng hợp. Số cán bộ cơ quan tăng từ 6 người lên 32 người , có 6 cử nhận và kỹ sư.

- Ngày 09/8/1970, Tỉnh uỷ Hà Bắc có Nghị quyết số 114/NQ-TU về hợp nhất Ban KHKT với Hội phổ biến KH&KT và phân công ông Ngô Như,Toàn, kỹ sư nông nghiệp, tỉnh uỷ viên, chuyển từ phó Ban quy hoạch phân vùng tỉnh về làm Trưởng Ban KHKT tỉnh. Phó Trưởng ban vẫn là các ông Lương Ngọc Chức và ông Nguyễn Khắc Thực .

- Các bộ phận chức năng gốm có. Phòng hành chính Phòng khoa học nông nghiệp, Phòng kỹ thuật công nghiệp, Phòng quản lý đo lường, và Phòng hoá tổng hợp.

            - Do hợp nhất Ban và Hội nên số cán bộ của 2 Văn Phòng và Hội có tới 47 người, lực lượng lớn nhất chưa thời kỳ nào có. Cho đến nay 28/9/1972 do yêu cầu phải tinh giảm biên chế, Tỉnh uỷ đã quyết định còn 30 người, tổ chức vào 3 phòng chủ yếu: Phòng nông nghiệp (7 người), Phòng thông tin kiêm hành chính (7 người), Phòng Đo lường tiêu chuẩn (14 người),; ngoài ra còn 2 người làm cấp dưỡng và tiếp phẩm.

2- Những kết quả hoạt động chính.

Từ ngày ra đời (19/10/1961) năm 1965 do mới được thành lập, lực lượng mỏng và thiếu, điều kiện hoạt động còn nhiều khó khăn và lúng túng, nên được sự quan tâm của lãnh đạo của Tỉnh uỷ, UBHC tỉnh và Uỷ Ban khoa học nhà nước (UBKHNN), song kết quả hoạt động còn nhiều hạn chế.

Cùng khí thế chung của toàn dân ra sức thi đua đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế xã hội, xây dựng CNXH miền bắc, ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, hoạt động KHKT trong thời kỳ này cũng đã góp phần đáng kể trong một sô mặt, cụ thể là:

* Trong nông nghiệp: Công tác tuyên truyền, phổ biến và hương dẫn kỹ thuật đã có tác dụng rõ rệt trong việc cải tiến kỹ thuật cải tiến công cụ. Cho đến tháng 12/1982, toàn tỉnh đã có 30 nghìn cày cải tiến và cày 5-1, 2.500 bừa cải tiến và 1.342 công cụ cày cầm tay: Hoàn chỉnh việc điều tra thổ nhưỡng để có đủ tài liệu phục vụ cho phân vùng canh tác và cải tạo đất bạc màu, chuẩn bị kế hoạch ổn định đất nông – lâm nghiệp phục vụ cho khai hoang, trồng cây gây rừng; Xây dựng được quy hoạch phát triển phân bón, trong đó có việc nghiên cứu thành công: sử dụng than bùn, làm phân xanh ủ phân vi sinh bón ruộng; việc tưới tiêu theo khoa học được thử nghiệm, sau mở rộng cho vụ đông xuân 1963-1964 đã cho kết quả tăng năng suất rõ ra (từ 15-30%). Tiến hành điều tra sâu bệnh và đã phát hiện một số sâu bệnh hại lúa.

* Ngành khí tượng hoàn thành điều tra cơ bản về khí hậu Hà Bắc, cung cấp thông tin khí tượng  phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, xây dựng.

* Trong công nghiệp cũng có nhiều cải tiến về cơ khí và sản xuất máy gạch, máy cấy, chế men sứ, gốm.

* Trong giao thông vận tải, thử nghiệm thành công dải cấp phối mặt đường theo, kỹ thuật chống ổ gà, hướng dẫn kỹ thuật làm giao thông nông thôn và cải tiến một số công cụ làm đường. Đặc biệt, bước đầu đưa Vận trù học giúp các ngành có lượng hàng hoá lớn làm kế hoạch vận chuyển theo sơ đồ mạng có nhiều kết quả.

* Trong y tế, tiến hành tiêu diệt dịch bệnh sốt rét, phổ biến những kinh nghiệm và kiến thức về chữa bệnh bằng thuốc nam, đông tây y kết hợp. Dược phẩm Bắc Giang đã sản xuất được nhiều loại thuốc nam thay thế một phần thuốc tây y, và trong đông y tiến hành chữa bệnh bằng châm cứu có nhiều kết quả.

Từ năm 1965, trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các cơ quan xí nghiệp, trong đó, Ban KHKT tỉnh cũng phải sơ tán về nông thôn 2 lần (Tháng 6 năm 1965 về Việt Lập - Tân Yên và đầu năm 1972 về Vạn An - Yên Phong). Về tổ chức, lực lượng của Ban thường biến động. Tuy gặp nhiều khó khăn song hoạt động của Ban KHKT tỉnh đã mờ rộng được quy mô trên nhiều lĩnh vực sản xuất, chiến đấu và đời sống.

Về nông nghiệp:

- Tổ chức nhiều cuộc toạ đàm về thâm canh cây trồng, về thời vụ lúa xuân, về tưới tiêu theo phương pháp khoa học, kỹ thuật và thả bèo hoa dâu.

Tổng kết lại giống và sâu bệnh hại lúa. Giải quyết kỹ thuật trồng rau giáp vụ, kỹ thuật cho lợn ăn thức ăn sống ủ men.

Tổ chức đưa cán bộ xuống cơ sở, trực tiếp chỉ đạo kỹ thuật và điều tra việc đưa giống lúa mới và phát triển lúa xuân ở Hà Bắc; Tìm hiểu sinh lý, sinh thái của cây lạc, từ đó có đề tài thí nghiệm tăng năng suất cây lạc.

Về công nghiệp:

- Tiến hành đưa cơ khí nhỏ vào hợp tác xã nông nghiệp.

- Nghiên cứu triển khai về thuỷ điện, thuỷ lực; Xây dựng trạm thuỷ điện nhỏ ở Lữ Vân và khảo sát ở một số nơi như Khe Ráy.

- Trong chế biến nông sản làm lò sấy khoai sắn, làm nha khoai lang, trồng nấm rơm rạ.

- Cải tiến công cụ cào cỏ 64A thành 64B, 64c .

Về công tác quản lý kỹ thuật:

Triển khai thực hiện Quyết định 102/QĐ của UBHC tỉnh Hà Bắc ngày 01/8/1968, ban hành Điều  lệ quản lý đo lường trong tỉnh. Về tổ chức, tỉnh ta là tỉnh thành lập Phòng Đo lường tiêu chuẩn thuộc Ban KHKT sớm và hoạt động ngay từ đầu đã khá năng động. Trong điều kiện chiến tranh, kinh phí có hạn, cơ quan trang bị một số công cụ sửa chữa cân, một số chuẩn khối lượng, một số xe kéo tay, lập đội kiểm định và sửa chữa cân lưu động ở nhiều huyện trong tỉnh. Từ năm 1970 đã mở rộng diện kiểm định sang độ dài thương nghiệp và dung tích.

Công tác tiêu chuẩn cũng được triển khai, ngoài tuyên truyền, phố biến, hướng dẫn thi hành các TCVN, còn tổ chức xây dựng các tiêu chuẩn địa phương và tiêu chuẩn cơ sở.

Trong cơ quan, đã tổ chức phòng kiểm nghiệm, gọi chung là phòng hoá nghiệm tổng hợp, trang bị đồng bộ các dụng cụ và các hoá chất đảm bảo tiến hành phân tích, kiểm nghiệm chủ yếu về thực phẩm như nước mắm, nước chấm.

Về công tác Thông tin Sáng kiến:

Đẩy mạnh việc phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật; Xuất bản nhiều tài liệu KT canh tác lúa, in lịch hàng năm, có năm in lịch sổ tay.

Phổ biến bảng đơn vị đo lường hợp pháp của Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; Mở hội nghị toàn tỉnh phổ biến đơn vị đo lường.

Tổ chức triển lãm lưu động về công cụ cải tiến, cộ thuyết minh, hướng dẫn chế tạo và sử dụng thử, sử dụng phim đèn chiếu.

Tổ chức nhiều buổi sinh hoạt KHKT với chủ đề chống chiến tranh hoá học và vi trùng, thâm canh lúa và hoa màu, tăng nhanh đàn lợn...

- Mặc dù, số lượng cán bộ KH Hà Bắc còn ít ỏi (Trình độ đại học có trên 400 người, trung học có 3.478, sơ cấp 3.099, riêng cán bộ y tế ở nông thôn đã có trên 2.000 người) nhưng Hà Bắc đã tổ chức Đại hội trí thức toàn tỉnh lần thứ nhất trong hai ngày 5-6/5/1967 .

II- THỜI KỲ 1976-1985 góp PHẦN CÙNG TOÀN TỈNH XÂY DƯNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC SAU KHI HOÀN TOÀN THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

1- Đặc điểm tình hình và công tác tổ chức:

Sau đại thắng mùa xuân 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, dân tộc Việt Nam bước vào giai đoạn lịch sử mới "Giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất và làm nhiệm vụ chiến lược duy nhất là tiến hành cách mạng XHCN, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH ''. (Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lấn thứ IV của Đảng cộng sản Việt Nam).

Tuy nhiên, vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh kéo dài, nước ta ở trong hoàn cảnh vừa xây dựng CNXH, vừa phải đối phó với 2 cuộc chiến tranh biên giới phía Tây nam và phía Bắc nên tình hình kinh tế và đời sống rất khó khăn.

Trong hoàn cảnh như vậy, Đảng ta vẫn quan tâm đến KHKT. Đặc biệt, ngày 20/4/1981 Bộ chính trị Trung ương. Đảng có Nghị quyết số 37/NQ-TW về chính sách KHKT thống nhất trong cả nước. Và ngày 23/12/1981 Tỉnh uỷ Hà Bắc ra Nghị quyết số 15/NQ-TU về công tác KHKT của tỉnh Hà Bắc. Do vậy, công tác KHKT được tặng cường về xây dựng tồ chức và hoạt động toàn diện. Về kiện toàn hệ thống các cơ quan quản lý về KHKT Nghị quyết Tỉnh uỷ chỉ rõ: Cần sớm kiện toàn, bao gồm Ban KHKT, các phòng quản lý KHKT ở các ngành, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, các tiểu ban KH&KT ở các hợp tác xã nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Đồng thời, củng cố và đẩy mạnh hoạt động của Hội đồng KH&KT ở các ngành, các cấp để làm tốt chức năng tư vấn cho lãnh đạo về KH&KT.

Chức năng, nhiệm vụ của Ban KH&KT tỉnh cũng được Nghị quyết chỉ rõ là cơ quan tham mưu của Tỉnh uỷ và UBND tỉnh trong việc lãnh đạo và chỉ đạo KH&KT, đồng thới là cơ quan quản lý thống nhất các

hoạt động KH&KT trong tỉnh. Trách nhiệm và quyền hạn của Ban KH&KT tỉnh tập trung vào quản lý tiến bộ KH&KT, trước hết là quản lý kế hoạch hoá, quản lý kỹ thuật trên 3 mặt: tiêu chuẩn, đường, kiểm tra chất lượng; quản lý sáng kiến, sáng chế; tham gia quản lý tiềm lực KH&KT như quản lý các tổ chức nghiên cứu và triển khai, bố trí cán bộ, phân bổ tài chính và vật tư, đặc biệt là thông tin KH&KT.

Trước yêu cầu nhiệm vụ đó, Ban KH&KT tỉnh được kiện toàn theo hướng bổ sung cán bộ lãnh đạo cơ quan, tăng biên chế, bố trí thêm cán bộ có năng lực, có kinh nghiệm sản xuất, có khả năng tổng hợp: ông Lương Ngọc Chức làm trưởng Ban thay ông Ngô Như Toàn(1977) và đầu năm 1983, ông Đỗ Huy Đức kỹ sư nông nghiệp, Tỉnh uỷ viên, được phân công làm Trưởng Ban thay ông Lương Ngọc Chức. Phó Ban và ông Thân Văn Pha và ông Lê Tâm Thái (1983).

Tổ chức của Ban gồm 3 phòng: Phòng hành chính tổ chức, Phòng Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng, Phòng Thông tin tổng hợp.

Ngày 23/4/1985 UBND tỉnh Hà Bắc ra Quyết định số 237/QĐ-UB ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của UBKH&KT tỉnh. Đổi tên Ban KH&KT thành UBKH&KT; cơ cấu tổ chức gồm: Lãnh đạo có Chủ nhiệm và các Phó Chủ nhiệm; Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng; Phòng hành chính tổ chức,  các bộ phận còn lại gọi là tổ (bỏ phòng), làm việc trực tiếp với lãnh đạo cơ quan theo chế độ chuyên viên. Phòng hành chính tổ chức vẫn giữ nguyên như trước, Phòng Tiêu chuẩn - Đo lường- Chất lượng chuyển thành Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng (TCĐLCL). Song phải chờ đến Quyết định số 655/QĐ-UB của UBND tỉnh ngày 13/9/1986 về việc thành lập Chi cục TCĐLCL thuộc UBKH&KT tỉnh Hà Bắc, Chi cục mới được sử dụng con dấu và tài khoản riêng. Các bộ phận còn lại là: Tổ tổng hợp Kế hoạch và Tổ Thông tin KH&KT.

Ông Đỗ Huy Đức làm Chủ nhiệm, ông Lê Tâm Thái và ông Thân Văn Pha làm Phó Chủ nhiệm. Năm 1986, ông Trần Đại Hùng, nguyên là Tỉnh uỷ viên, Giám đốc Sở Nông nghiệp, làm Chủ nhiệm UB thay ông Đỗ Huy Đức.

 2- Những kết quả hoạt động chính.

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được quy định cụ thể, cơ cấu tổ chức hoạt động quản lý gọn nhẹ, và hợp lý dần, số lượng cán bộ tuy có những biến đổi chuyển đi, chuyển đến, giao động trong khoảng 30- 32 người, song nói chung ổn đinh. Do vậy, hoạt động KH&KT trong thời kỳ này tiếp tục được mở rộng cả về quy mô và chất lượng.

Về công tác tham mưu, tư vấn.

Tham mưu cho Tỉnh uỷ mở Hội nghị đại học toàn tỉnh ngày 20/1/1977, nghiên cữu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV (theo số liệu thống kê, tại thời gian này Hà Bắc có khoảng 2.200 cán bộ có trình độ đại học, chưa kể các đơn vị thuộc Trung ương quản lý đóng trên địa bàn tỉnh). Đây là Đại hội trí thức Hà Bắc lần thứ hai. Đồng chí Vũ Thơ -Bí thư tỉnh uỷ và các đồng chí trong Ban thường vụ Tỉnh uỷ chủ trì và tham dự hội nghị.

Giúp Tỉnh uỷ xây dựng dự thảo Nghị quyết của Tỉnh uỷ thực hiện Nghị quyết số 371NQ-RW của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương về công tác KH&KT. Và ngày 23/12/1981 Tỉnh uỷ đã ra Nghị quyết số 15/NQ-TU về công tác này.

Tham mưu tư vấn cho Tỉnh uỷ các luận cứ khoa học, kỹ thuật, kinh tế trong phản biện chủ trương lấy phù xa, cải tạo đất tại Chì, huyện (Quế Võ) với tên gọi là ''Công trường Phù Sa''. Kết quả là Tỉnh đã quyết định dừng không thực hiện chủ trương này.

Thực hiện công tác quản lý nghiệp vụ và chuyên môn.

Trong công tác kế hoạch hoá KH&KT và áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đã hướng dẫn các ngành lập kế hoạch áp dụng tiến bộ kỹ thuật và đăng ký các đề tài nghiên cứu ứng dụng. Một số đề tài tiến hành có kết quả như: Cơ giới hoá việc bốc dỡ nguyên nhiên liệu ở hợp tác xã vôi Quyết Tiến, thiết kế và chế tạo máy bứt củ lạc, nuôi tảo Spurulina theo phương pháp thủ công làm thức ăn cho gà, nghiên cứu để giống khoai tây đạt tỷ lệ cao.... Việc đưa tiến bộ KHKT vào đời sống đã giải quyết vấn đề chất đốt và vệ sinh môi trường, tổ chức hướng dẫn xây hầm khí Mê tan ( Biogas) ở một số trại chăn nuôi tập thể.

Công tác sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất đã cử cán bộ chuyên trách làm công tác này, giúp cho nhiều ngành của tỉnh tổ chức xét duyệt các sáng kiến, cải tiến, tạo điều kiện đẩy mạnh phong trào quần chúng tiến quân vào lĩnh vực KHKT, phát triển sản xuất và cải thiện đời sống.

Về công tác quản lý kỹ thuật, đặc biệt được quan tâm tăng cường trên cơ sở đã có các văn bản pháp lý, quy định cụ thể. Đã mở rộng địa bàn hoạt động, có chương trình kế hoạch nên đã đi kiểm tra, kiểm định được nhiều hơn.

Đối với công tác têu chuẩn hoá, tổ chức các cơ sở áp dụng tiêu chuẩn, xây dựng quy cách chất lượng một số sản phẩm, đồng thời tiến hành sưu tầm, lưu trữ hàng trăm tiêu chuẩn vệt Nam và tiêu chuẩn vùng.

Về đo lường, tham gia kiểm tra các dụng cụ đo khối lượng ở các cơ sở sản xuất và lưu thông phân phối; kiểm định dụng cụ dung tích như hệ thống bình đong, xe Stéc chở xăng, dầu.

Về chất lượng sản phẩm hàng hoá, tiến hành kiến tra trên diện rộng với nhiều loại sản phẩm lương thực - thực phẩm, thức ăn gia súc, các loại vật liệu xây dựng, hạt giống lúa,...

Về công tác thông tin KHKT, tăng về số lượng và chất lượng các ấn phẩm thông tin, năm ra 4 kỳ tạp chí KHKT, mỗi kỳ 1.000 tập và lịch nông nghiệp 3.000 tập. Đặc biệt, để phục vụ tin cho chương trình cải tạo đất của tỉnh đã in và phát hành một số tập tin và chuyên đề.

Kết hợp tổ chức một số hội nghị bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác sáng kiến và bồi dưỡng kỹ thuật.

III -THỜI KỲ 1986 ĐẾN NAY: BƯỚC VÀO THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI VÀ TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC.

Thời kỳ này chia làm hai giai đoạn:

A- Giai đoạn từ 1986 đến 1993: Hoạt động của ngành trong thời kỳ đổi mới, trước khi thành lập Sở KHCN&MT.

1- Đặc điểm tình hình và công tác tổ chức

Là thời kỳ bắt đầu thực hiện đường lối đổi mới và mở cửa của Đảng và Nhà nước. Trước yêu cầu khách quan, bức bách từ thực tiễn phát triền kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước tiến hành đổi mới, xoá bỏ chế độ quan liêu bao cấp, chuyển sang kinh tế nhiều thành phần, giải phóng lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Trong nông nghiệp, thực hiện khoán theo tinh thần Nghị quyết của Hội Nghị BCH Trung ương Đảng 9 lần thứ 10 (Khoá VII) đã tạo ra những chuyển biến tích cực, nông dân thực sự làm chủ phần ruộng đất được giao của mình, phấn khởi tìm tòi, áp dụng các tiến bộ KHKT, đẩy mạnh sản xuất nông sản hàng hoá. Nền kinh tế nhiều thành phần nhanh chóng phát triển.

Là một chuyên ngành phục vụ tích cực cho sự đổi mới, nhằm phát triển cho sản xuất, ổn định đời sống trong tình hình có nhiều biến động phức tạp nên về tổ chức bộ máy và nội dung hoạt động cũng có những thay đổi thích ứng.

Sau khi đổi tên từ Ban KHKT tỉnh thành UBKH&KT, UBKH&KT tỉnh tổ chức và hoạt động theo Điều lệ ban hành tại Quyết định số 237/QĐ-UB ngày 23/4/1985. Song phải một thời gian sau mới hình thành tổ công tác quản lý khoa học xã hội gồm 3 người.

Đặc biệt, do công tác quản lý nhà nước và quả lý kỹ thuật trong tình hình phát triển kinh tế hàng hoá đòi hỏi, nên ngày 23/9/1986 Tỉnh có Quyết định số 655/NQ-UB về việc thành lập Chi cục TCĐLCL thuộc UBKH&KT tỉnh. Lãnh đạo Chi cục do ông Thân Văn Pha - Phó Chủ nhiệm UBKH&KT trực tiếp làm Chi cục trưởng. Tổ chức của Chi cục gồm: Phòng hành chính tổ chức, Phòng quản lý Đo lường, Phòng quản lý Tiêu chuẩn và Chất lượng.

Để tăng cường công tác tư vấn về KH&KT, UBND tỉnh có Quyết định số 241/QĐ-UB ngày 10/6/1985 thành lập Hội đồng KH&KT tỉnh do ông Nguyễn Ninh - Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh là Chủ tịch Hội đồng và 18 uỷ viên hội đồng. Cơ quan thường trực của Hội đồng đặt tại UBKH&KT tỉnh.

Vào đầu năm 1988, do nhu cầu tập trung quản lý và phát triển KH&KT trong nền kinh tế hàng hoá và do tiềm lực có hạn, UBND tỉnh có Quyết định đổi tên UBKH&KT tỉnh thành Ban KH&KT Hà Bắc. Đồng thời, nhằm phát triển, mở rộng hệ thống quản lý nhà nước về KH&KT trong tỉnh đến cấp huyện thị, ngày 02/8/1988 UBND tỉnh có Quyết định số 549/UB về việc thành lập Trạm KHKT Hiệp Hoà (nay là Trung tâm KH-CN&MT Hiệp Hoà), là đơn vị hoạt động theo chế độ hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, chịu sự quản lý về mọi mặt của UBND huyện Hiệp Hoà, đồng thời chịu sự hướng dẫn về nghiệp vụ, chuyên môn của Ban KH&KT tỉnh. Và ngày 18/7/1989 UBND tỉnh có Quyết định số 515/UB về việc thành lập Trung tâm ứng dụng và Dịch vụ KHKT thuộc Ban KH&KT tỉnh, phân công ông Tâm Thái, Phó Ban K,LH&KT tỉnh trực tiếp làm Giám đốc Trung tâm.

2- Những kết quả hoạt động  chính

Về áp dụng TBKH:

Trong sản xuất nông - lâm nghiệp, đã áp dụng nhiều TBKT về các loại giống cây, giống con. Tiến hành tuyển chọn và bổ sung một số bộ giống lúa, ngô, đậu đỗ, các loại rau vụ đông, giống lợn, giống cá; đồng thời đã bố trí cơ cấu cây trồng, chỉ đạo thời vụ, thực hiện kỹ thuật thâm canh theo vùng sinh thái, làm tốt công tác bảo vệ thực vật, thú y, và cung ứng vật tư kỹ thuật.

Ngành thuỷ lợi , đã cải tiến công tác điều hành tưới tiêu, xây dựng một số trạm bơm, áp dụng thành công việc dùng phụ gia trong đúc bê tông đông kết nhanh, tiết kiệm 10% xi măng, đưa nhanh tốc độ thi công các công trình; ứng dụng lò gang rót thẳng, tận dụng gang phế liệu đúc quay tay, tiết kiệm 40-50% nguyên liệu, giảm giá thành sản phẩm.

Ngành giao thông vận tải, đã áp,dụng một số tiến bộ kỹ thuật như đóng mới vỏ xe ca 26 - 46 chỗ ngồi, phà trọng tải 30 tấn, xà lan lưới thép 50 tấn, làm mặt đường cấp phối lvanốp để thi công các tuyến đường trong tỉnh.

Ngành xây dựng, đã áp dụng các TBKT sản xuất cột điện mặt bích H16, cải tiến lò sấy đất sét trong sản xuất xi măng, tiết kiệm mỗi năm 70 tấn than, chế tạo máy ép gạch hoa trang trí...

Ngành y tế, đã cố gắng đưa các TBKT vào bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, rõ nhất là trong vệ sinh phòng bệnh, sinh đẻ kế hoạch, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, kết hợp đông tây y.

Tăng cường công tác quản lý và xây dựng tiềm lực KHKT:

Bước đầu đổi mới về cơ chế quản lý KHKT. Các chương trình, đề tài KHKT trong tỉnh hay liên kết với tỉnh ngoài đều phải thông qua các hợp đồng, phải được đánh giá về trình độ công nghệ và hiệu quả kinh tế.

Công tác sở hữu công nghiệp, bao gồm cả sáng kiến, sáng chế, hợp lý hoá sản xuất, có nhiều sáng kiến có giá trị được công nhận và được khen thưởng như chế tạo máy ép trục vít HT-02, cải tiến lò sấy đất sét trong sản xuất xi măng, sáng kiến sản xuất bơm trục xiên...

Công tác Thông tin KNKT Được tăng cường. Ngoài xuất bản và phát hành các tạp chí thông tin quý còn phối hợp với các các cơ quan như Nông nghiệp , Xây dựng, Văn hoá - thông tin, Y tế , ra các tạp san chuyên đề, cùng Ban Tuyên giáo và Trường Đảng Nguyễn Văn Cừ tổ chức hội thảo và xuất bản Tập nghiên cứu khoa học về đời hoạt động của đồng chí Nguyễn Văn Cừ. Xuất bản tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội, và cung cấp thông tin phục vụ lãnh đạo; phối hợp với Báo Hà Bắc, Đài phát thanh Hà Bắc, hàng tháng có trang chuyên đề về KHKT, hàng tuần có buổi phát thanh Khoa học và Đời sống. Tổ chức nhiều cuộc Hội thảo chuyên đề, chiếu phim băng hình KHKT đến ngành, xí nghiệp và một số huyện. Bước đầu dùng băng từ phục vụ thông tin khoa học, thường xuyên bồi dưỡng đội ngũ cộng tác viên KHKT.

Công tác quản lý TCĐLC: Đã áp dung hàng trăm tiêu chuẩn các loại trong sản xuất CN - TTCN, xây dựng, giao thông vận tải. Hàng trăm sản phẩm đã đăng ký chất lượng và xây dựng được nhiều tiêu chuẩn đa phương (TCV). Công tác thanh tra định kỳ chất lượng sản phẩm,được đến hành thường xuyên.

- Hầu hết các dụng cụ đo lường của các ngành thương nghiệp, lương thực, ngoại thương, vật tư nông nghiệp cũng được kiểm tra thường xuyên. Trong hoạt động, Chi cục TCĐLCL đã phát hiện, xử lý các vụ buôn bán phân Kali trắng giả ở một số đơn vị thương nghiệp quốc doanh huyện Hiệp Hoà, Tân Yên và Yên Dũng. Thanh tra và xử lý vụ cấp giống kém chất lượng cho trại giống lúa Phi Mô Lạng Giang gây thiệt hại cho Nhà nước và nhân dân.

Công tác hợp tác KNKT được mở rộng, đem lại nhiều hiệu quả tốt như phối hợp với Viện Địa chất và Khoáng sản thăm dò chất lượng đá xẻ, hợp tác với Viện Khoa học Nông nghiệp thực hiện chương trình đồng trũng, với Viện Công nghiệp thực phẩm sản xuất nước ngọt có ga, phối hợp với Viện Hoá công nghiệp đưa chế phẩm tăng sản ngô, cây họ đậu, thuốc đậu quả; với Viện Khoa học Nông nghiệp giúp chế biến tinh bột sắn; phối hợp với một số tỉnh bạn đưa quy trình chế biến mầu vào bữa ăn...

Đặc bệt, trong những năm 1989-1991 hoạt động KH&KT đã góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội do Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ VII đề ra như: ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật đã tập trung vào việc thực hiện 4 chương trình kinh tế-xã hội lớn (chương trình lương thực- thực phẩm, chương trình hàng tiêu dùng và xuất khẩu, chương trình điều tra cơ bản phục vụ xây dựng chiến lược kinh tế, khai khác tài nguyên và chương trình dân số trên địa bàn tỉnh). Rất nhiều đề tài khoa học trong các chương trình trên được triển khai có kết quả như thâm canh tăng năng suất lúa, thâm canh ngô vụ đông giống hạt đỏ dùng cho chăn nuôi và xuất khẩu, đề tài nâng cao chất lượng lạc xuất khẩu, kỹ thuật nuôi lợn xuất khẩu đề tài chế biến màu, đề tài sản xuất nước ngọt có ga, sản xuất gốm dân dụng và xây dựng, sản xuất hàng da, động cơ điện, quạt bàn sải cánh 400mm, đề tài nâng cao chất lượng phân lân nung chảy, kỹ thuật trồng và chưng cất tinh dầu dược liệu, sản xuất đũa tre xuất khẩu...Đối với chương trình điều tra cơ bản, một số đề tải thu kết quả tốt như: điều tra nguồn nước, trữ lượng nước ngầm ở thị xã Bắc Giang, điều tra đánh giá trữ lượng rừng, các loại gỗ quý; phối hợp với chương trình vệ tinh viễn thám của Pháp, điều tra bổ sung một số loại khoáng sản phục vụ sản xuất công nghiệp và nước khoáng...

Về công tác tham mưu, Ban KH&KT tỉnh đã giúp UBND tỉnh dự thảo Chính sách khuyến khích các hoạt động KHKT tỉnh. Và ngày 31/8/1989 UBND tỉnh đã có Quyết định 660/QĐ-UB ban hành "Quy định tạm thời về một số biện pháp khuyến khích phát triển hoạt động KHKT tỉnh Hà Bắc''. Ngoài ra, Ban KH&KT tỉnh đảm nhiệm đề tài ''Điều tra cán bộ khoa học và công nhân kỹ thuật giúp cho công tác nghiên cứu khai thác sử dụng tiềm lực về con người.

B- Giai đoạn từ năm 1994 đến nay : Hoạt động của ngành trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, sau khi Sở KHCN&MT được thành lập.

1- Đặc điểm tình hình và công tác tổ chức

Đường lối đổi mới toàn diện, mở cửa và hội nhập của Đảng và Nhà nước tiếp tục được tăng cường và mở rộng. Nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế ngày một phát triển, năng động. Kinh tế phát triển, đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đi theo đó là việc nhập công nghệ, ký kết và thực hiện các hợp đồng chuyển giao công nghệ. Trong cạnh tranh bắt buộc các doanh nghiệp của nước ta phải nhanh chóng đổi mới công nghệ.

Vấn đề bảo vệ môi trường cũng trở nên cấp thiết, có tính toàn cầu. Ngay ở trong tỉnh ta cũng phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng do rừng bị chặt phá, đất đai nông nghiệp bị ô nhiễm nặng vì dùng nhiều phân hoá học và thuốc trừ sâu, gây tình trạng ô nhiễm đất, nguồn nước, không khí...

Trong tình hình như vậy, nội dung quản lý hoạt đông KHKT cần thay đổi đối tượng, phạm vi cũng như nội dung quản lý được mở rộng, buộc phải đổi mới phương thức và bộ máy quản lý, trong đó việc quản lý nhà nước về công nghệ và môi trường trở nên bức bách.

Vì vậy ở Trung ương Bộ KH-CN&MT được thành lập theo Nghị quyết Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá IX ngày 30/91/992. Và ngày 22/5/1993 Chính phủ ban hành Nghị định 22/CP về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ KH-CN&MT.

Trên cơ sở Thông tư Liên bộ số 1450/TT-LB - ra ngày 01/9/1993 giữa Bộ KH-CN&MT và Ban tổ chức cán bộ Chính phủ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức cơ quan quản lý KHCN&MT các tỉnh, thành phố trực thuộc TW, ngày 05/5/1994 UBND tỉnh Hà Bắc ra Quyết định số 62/QĐ-UB thành lập Sở KH-CN&MT, tỉnh Hà Bắc trên cơ sở Ban KH&KT tỉnh, là cơ quan thuộc UBND tỉnh, chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về KH-CN&MT trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật và chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ KH-CN&MT.

Về tổ chức bộ máy : Sở KH-CN&MT do Giám đốc Sở điều hành. Các đơn vị nghiệp vụ gồm: Phòng TCHCTH, Phòng quản lý KH-CN và Môi trường (sau tách thành 2 phòng: Phòng quản lý KH-CN và Phòng quản lý Môi trường), Phòng Thông tin tư liệu và Sở hữu công nghiệp, Thanh tra sở và Chi cục TCĐLCL. Riêng Chi cục, chia ra các phòng: Phòng quản lý Đo lường, Phòng quản lý Chất lượng và Phòng : Hành chính Tổng hợp. Cuối năm 1997, Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ KHCN&MT thuộc Sở được thành lập và bắt đầu hoạt động từ đầu hăm 1998. Đối với cấp huyện, ngoài Trung tâm KHCN&MT Hiệp Hoà, đã ra đời Trung tâm KHCN&MT Tân Yên (1996). Và ở các huyện thị còn tại trong tỉnh đến nay đã bố trí được cán bộ chuyên trách theo dõi về công tác KHCN&MT.

Biên chế của Sở do UBND tỉnh quyết định giao hàng năm. Trong năm 1994 là 35 người (Văn phòng Sở 22 người, Chi cục 13 người). Ông Trần Đại Hùng nghỉ hưu (tháng 10/1994), ông Lê Văn Tưởng, nguyên Phó Giám đốc Sở (từ 1992) được phân công Phụ trách Sở sau khi ông Hùng nghỉ hưu.

Đầu năm 1995, UBND tỉnh tiếp nhận và bổ nhiệm PGS, TS Thân Ngọc Hoàn, nguyên Trưởng khoa Điện – Điện tử trên tầu, Trường Đại học Hàng hải làm Giám đốc Sở. Sau gần 50 ngày, ông Hoàn lại trở lại Trường Đại học hàng hải và UBND tỉnh đã bổ nhiệm ông Lẽ Văn Tưởng làm Giám đốc Sở và các ông Hà Quê, nguyên Chủ tịch HĐND huyện Hiệp Hoà làm Phó Giám đốc Sở (cuối năm 1995) và ông Hà Trọng Công, nguyên là Giám đốc Công ty Ngoại thương, làm Phó Giám đốc Sở (đầu năm 1996).

Khi tái lập lại 2 tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh (01/01/1997),UBND tỉnh đều động ông Lê Văn Tưởng và bổ nhiệm làm Chánh Văn Phòng UBND tỉnh, ông Hà Trọng Công, PGĐ được phân công Phụ trách Sở.

Tháng 10/1997, TS Nguyễn Văn Liễu, nguyên là Trưởng bộ môn Cây Đậu đỗ, kiêm Trạm Trưởng Trạm Nghiên cứu đậu đỗ Hà Bắc, Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam, được bổ nhiệm làm Giám đốc Sở, ông Hà Trọng Công tàm Phó Giám đốc thường trực, ông Hà Quê làm Phó Giám đốc, kiêm Chi cục trưởng Chi cục TCĐLCL.

Hiện nay số cán bộ trong biên chế là 37 và 11 lao động hợp đồng. Trình độ hiện có: 02 đến sĩ, 22 cử nhân- kỹ sư, trong đó có 04 người đang theo học chương trình trên đại học, số còn lại là trung học và kỹ thuật viên.

2- Những kết quả hoạt động chính

Trong thời kỳ này vẫn còn những khó khăn, tồn tại như khoảng cách khá xa giữa yêu cầu đòi hỏi với khả năng thực hiện; tiềm lực khoa học về vốn đầu tư chưa nhiều, thị trường cho phát triển khoa học, công nghệ còn rất hạn hẹp... tuy nhiên cũng có những yếu tố thuận lợi. Có thể nói, chưa có thời kỳ nào có sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước từ Trung ương tới tỉnh như thời kỳ này. Hội nghị BCH TW khoá VIII đã dành một Nghị quyết riêng (Nghị quyết Trung ương 2) về Khoa học- công nghệ và Giáo Dục - Đào tạo, Quốc hội cũng đã thông qua Luật KH-CN. Sở KHCN&MT tỉnh được tăng cường tiềm lực về kinh phí, cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ. Tuy đội ngũ cán bộ chưa đủ và thật mạnh, song có được lực lượng có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ như hiện nay là một nhân tố quan trọng. Trụ sở làm việc, phương tiện thiết bị dùng trong hoạt động quản lý ngày được bổ sung hoàn chỉnh. Kinh phí đầu tư cho hoạt động KH-CN của tỉnh mỗi năm được tăng thêm, từ xấp xỉ 0,4% ở đầu thời kỳ, đến nay là trên dưới 1% tổng chi ngân sách của tỉnh.

Đây là thời kỳ hoạt động của toàn ngành có sự thay đổi rõ rệt cả lượng lẫn về chất. Kết quả cụ thể trên các mặt công tác như sau:

                Công tác tham mưu, tư vấn

Cùng với một số ban ngành tham mưu giúp tỉnh uỷ xây dựng các Qui hoạch phát triển kinh tể - xã hội tỉnh giai đoạn 1996-2000, giai đoạn 2000-2010; xây dựng Kế hoạch thực hiện Chỉ thị 63/CT-N/V, ngày 28 tháng 2 năm 2001 của Bộ Chính tị về đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng KHCN phục vụ CNH-HĐH nông nghiệp - nông thôn.

Chủ trì tham mưu cho tinh uỷ, UBND tỉnh trong các công việc lớn sau:

Xây dựng chương trình hành động của tỉnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (Khóa VIII) về "Định hướng chiến lược phát trển KHCN trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và nhiệm vụ đến năm 2000''.

- Xây dựng các báo cáo sơ kết 2 năm, tổng kết 4 năm thực hiện Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII) của tỉnh uỷ Bắc Giang.

- Ban hành thông tri số 03 TT-TU về việc thực hiện Chỉ thị số 36/CT-TW của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Giang.

- Xây dựng ''Chiến lược phát triển KHCN tỉnh Bắc Giang đến năm 2010''; ''Chiến lược Bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Giang đến năm 2010'' và ''Quy chế:bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Giang''.

- Tổ chức thành công Hội nghị tổng kết 6 năm thực hiện Luật BVMT (9/2000), Hội nghị Chủ tịch UBND 6 tỉnh Đề án tổng thể bảo vệ và khai thác bền vững lưu vực sông Cầu lần thứ IV, ngày 23/6/2001 tại Bắc Giang.

- Chủ trì xây dựng đề án và tham mưu cho Tỉnh uỷ, UBND tỉnh thành lập Liên hiệp Các hội KH&KT tỉnh Bắc Giang vào năm 2000.

- Tham mưu cho UBND tỉnh nhiều văn bản pháp qui có liên quan tới công tác tổ chức, hoạt động của Hội đồng KHCN tỉnh, Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường tỉnh.

Tham gia các tổ soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến  giới chi thức xấy dựng các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc (cũ) lần thứ IX và Bắc Giang (mới) lần thứ XV.

Phối hợp với các huyện bố trí cán bộ chuyên trách quản lý, theo dõi về KHCN ở tất cả 10 huyện, thị xã; Hội đồng KHCN huyện được kiện toàn. Chính vì vậy, hoạt động KHCN và bảo vệ môi trường những năm gần đây có nhiều chuyền biến tích cực, vai trò của ngành KHCN&MT ngày càng rõ nét trong các hoạt động KHCN&MT ở các địa phương trong tỉnh.

 

                Công tác quản lý KH&CN

Hoạt động quản lý KNCN 

Công tác quản lý KHCN được từng bước đổi mới, làm tốt từ khu xây dựng kế hoạch đến triển khai thực hiện, gắn nghiên cứu ứng dụng KHCN với tính hiệu quả trong phát triển kinh tế xã hội.

Năm 1997 nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật 16 đề tài với tổng kinh phí 580 triệu đồng. Năm 1998 nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật 21 đề tài với tổng kinh phí 650 triệu đồng. Năm 1999 nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật 18 đề tài trong đó có 5 đề tài chuyển tiếp với tổng kinh phí 640 trệu đồng. Năm 2000 nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật 29 đề tài trong đó có 4 đề tài chuyển tiếp với tổng kinh phí 1242 trệu đồng. Các đề tài ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đều đạt kết quả

Đánh giá thẩm định công nghệ và nghiên cứu, chuyển giao

- Năm 1988: Dây chuyền công nghệ sản xuất bia cho Nhà máy Bia HABADA.

Năm 1999: Dây chuyền công nghệ đóng hộp vải thiều của Viện Nghiên cứu và Chế tạo máy nông Hưng Thịnh 2001: Tổ chức chuyển giao công nghệ chế biến rau quả qui mô vừa cho Công ty TNHH Hưng Thịnh.

Quản lý nguồn lực.

Năm 1997 tổng kinh phí đầu tư sự nghiệp KHCN&MT là 1390 triệu đồng trong đó dành cho đào tạo nghiệp vụ là 33 triệu đồng, Đầu tư cho thiết bị máy móc là 260 triệu đồng. Năm 1998 tổng kinh phí đầu tư sự nghiệp KHCN&MT là 1.627,6 triệu đồng trong đó dành cho đào tạo nghiệp vụ là 53,6 triệu đồng, Đầu tư cho thiết bị máy móc là 125 triệu đồng. Năm 1999 tổng kinh phí đầu tư sự nghiệp KHCN&MT là 2.162 triệu đồng trong đó dành cho đào tạo nghiệp vụ là 62 triệu đồng, Đầu tư cho thiết bị máy móc là 100 triệu đồng. Năm 2000 tổng kinh phí đầu tư sự nghiệp KHCN&MT là 33.00 triệu đồng trong đó dành cho đào tạo nghiệp vụ là 50 triệu đồng, Đầu tư cho thiết bị máy móc là 380 triệu đồng. Năm 2001 tổng kinh phí đầu tư sự nghiệp KHCN&MT là 3.393 triệu đồng.

Công tác quản lý môi trường

- Giúp tỉnh chỉ đạo và trực tiếp tham gia thực hiện triển khai tốt việc tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ môi trường, Chỉ thị 361CT-TW của Bộ chính trị và các văn bản của Chính phủ có liên quan.

- Tổ chức 16 Hội nghị phổ biến Luật BVMT ở cả trong 10 huyện - thị của tỉnh, số lượng người tham gia khoảng trên 500, đối tượng chính là chủ tịch xã, phường, trưởng phó các phòng - ban của huyện - thị xã, của các cơ sở sản xuất - kinh doanh và cán bộ - chiến sĩ binh chủng hoá học thuộc Quân đoàn 2. Đồng thời, đã tổ chức 02 lớp tập huấn vê nâng cao kiến thức, năng lực quản lý môi trường và phương pháp lựa chọn ưu tiên trong xây dựng kế hoạch, chiến lược BVMT cho trên 50 người.

- Hàng năm tổ chức các cuộc mít tinh kỷ niệm và thực hiện triển khai kế hoạch hoạt động môi trường có kết quả, như Tuần lễ nước sạch - vệ sinh môi trường 29/4 – 7/5, Ngày môi trường thế giới 5/6, chiến dịch làm sạch thế giới 22/9. Đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

- Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh; nâng cao được nhận thức và trách nhiệm của các cơ sở trong việc gắn kết giữa sản xuất và bảo vệ môi trường trong cộng đồng. Hàng năm tổ chức kiểm tra, thanh tra được hàng trăm cơ sở về công tác bảo vệ môi trường. Cấp và đổi giấy cam kết, giấy phép môi trường cho các cơ sở sản xuất-kinh doanh trong tỉnh

- Xây dựng thành công một số điển hình làm tết công tác bảo vệ môi trường ở các khu dân cư tập trung như: Hợp tác xã cổ phần nước sạch - vệ sinh môi trường ở thị trấn Thắng - Hiệp Hoà, Tổ Dịch vụ Vệ sinh Môi trường thị trấn Cao Thượng - Tân Yên, các Câu lạc bộ Phụ nữ làm công tác vệ sinh môi trường ở thị xã Bắc Giang, các Làng Năng suất xanh Khả Lý và Tĩnh Lộc ở Việt Yên. Phát động phong trào xanh- sạch -đẹp ở nhiều cơ quan, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học.

- Tham gia tư vấn, giúp cơ sơ triển khai ứng dụng các công nghệ xử lý ô nhiễm nước thải trong quá trình sản xuất giấy đế, rác thải bệnh viện (Bắc Giang), giải quyết ô nhiễm làng nghề bằng công nghệ hầm khí Biogas, áp dụng chế phẩm EM. Triển khai thẩm định định giá tác động môi trường cho trên 10 dự án.

- Chủ động tham gia và đề xuất những giải pháp tích cực giúp ngành Nông nghiệp và PTNT xử lý tiêu huỷ thành công trên 11 tấn thuốc bảo vệ thực vật kém phẩm chất, tồn đọng tại kho của Công ty Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp tỉnh.

- Thực hiện một số dự án bảo vệ môi trường của tỉnh như: Điều tra về Hiện trạng môi trường hàng năm; Điều tra, khảo sát hiện trạng môi trường Hồ Cấm Sơn làm cơ sở xây dựng phương án thành lập khu bảo tồn thiên nhiên; Tham gia với tích cực vào các hoạt động của Đề án tổng thể về Bảo vệ và khai thác bền vững lưu vực Sông Cầu của 6 tỉnh trong lưu vực.

- Tổ chức thẩm định về mặt môi trường cho hầu hết các dự án phát triển kỉnh tế - xã hội trong tỉnh.

Công tác quản lý Tiêu chuẩn - đo lường chất lượng

Trong thực hiện quản lý nhà nước chuyên ngành

- Đã tiến hành kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh sau đăng ký chất lượng và kiểm định được năm 1997: 50 cơ sở; năm 1998: 212 cơ sở; năm 1999: 167 cơ sở; năm 2000: 148 cơ sở.

- Phối hợp thanh tra và quản lý thị trường, kiểm tra chuyên đề trên cả 10 huyện, thị được: năm 1997: 50 lượt; năm 1998: 43 lượt; năm 1999: 244 lượt; năm 2000: 136 lượt.

- Triển khai công tác giải thướng chất lượng Việt Nam: năm 1998: 2 cơ sở SXKD đạt giải (1 đạt giải khuyến khích) năm 1999: 2 cơ sở đạt giải khuyến khích.

- Đã tổ chức được nhiều hội nghị tuyên truyền nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải nâng cao chất lượng hàng hoá trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập, tổ chức đào tạo hướng dẫn về Tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000.

            Trong công tác tổ chức xây dựng mạng lưới

- Từ năm 1999, tiến hành sử dụng cộng tác viên làm kiểm định viên của Chi cục đối với một số loại cân nhỏ (cân treo, cân bàn, cân đồng hồ) tại 2 Trung tâm huyện. Số cân do các cộng tác viên kiểm tra kiểm định hàng năm tới 1.500 chiếc, góp phần kiểm soát cân đo ở các chợ nông thôn.

- Công tác và phối hợp kiểm kiểm tra với cơ sở có đăng ký và sửa chữa đo lường làm tăng khả năng kiểm định công tơ điện của Chi cục tới 2-3 lần.

Trong công tác nghiệm vụ đo lường, chất lượng:

- Về quản lý chất lượng: Tiến hành đăng ký chất lượng hàng hoá được 170 sản phẩm; Chứng nhận hợp chuẩn 5 sản phẩm

- Kiểm định, kiểm nghiệm 4 năm: 1.570 mẫu, trong đó phục vụ sản xuất kinh doanh gần 1000 mẫu; phục vụ thanh tra, kiểm tra, quản lý tên 600 mẫu; phục vụ giám định 250 mẫu.

- Về quản lý đo lường: tổng số dụng cụ đo (gồm công tơ điện, đồng hồ nước, cột đo nhiên liệu, cân ô tô và các loại khác) được trên 70.000 chiếc.

 

- Trong công tác bồi dưỡng, đào tạo: phổ biến, hướng dẫn các Pháp lệnh về TCĐL, về tiêu chuẩn ISO 9000. Tổ chức đào tạo, giúp các huyện được trên 80 lượt người là cán bộ quản lý về TCĐLCL của cơ sở.

Hoạt động thông tin tư liệu và sở hữu công nghiệp.                       

- Duy trì thường xuyên việc xuất bản và phát hành một số loại ấn phẩm thông tin KHCN&MT phục vụ lãnh đạo, quản lý và triển khai ứng dụng KHKT như: tạp chí hàng quý, bản tin ngắn hàng tuần, lịch Khoa học hàng năm. Phối kết hợp với các cơ quan thông tin đại chúng trong tỉnh như Báo Bắc Giang ra trang báo KHCN&MT hàng tháng, với Đài phát thanh-truyền hình tỉnh thực hiện những chương trình chuyên đề.

- Biên soạn tuyển tập Kết quả các đề tài, dự án nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ và môi trường của tỉnh. Và tập sách ''khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Bắc Giang: 40 năm xây dựng và phát triển''.

 Hoạt động thông tin KHCN&MT ngày càng tăng nhanh cả về lượng và về chất.

- Từ 1996, bắt đầu nối mạng VISTA và khai thác xử lý thông tin ngành từ Trung tâm Thông tin tư liệu KH&CN quốc gia. Những năm đầu, tiến hành 3 lần/tuần, nay tiến hành cập nhật hàng ngày trên internet.

- Tham gia xây dựng và thực hiện việc triển khai Chương trình phát triển công nghệ thông tin của tỉnh. Cuối năm 2000 hoàn thành việc xây dựng, lắp đặt mạng nội bộ (LAN) và phối hợp thực hiện trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, giúp một số cơ quan ban ngành trong tỉnh, thực hiện xây dựng mạng phục vụ lãnh đạo quan lý trong tỉnh. Mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức và nghiệp vụ sử dụng, quản lý công nghệ hông tin. Chương trình phát triển CNTT đã góp phần đáng kể vào công cuộc cải cách hành chính của tỉnh.

Tổ chức thực hiện xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) có kết quả và tiến hành cập nhật cơ sở dữ liệu bắt đầu từ năm 1999 tới nay.

- Tổ chức và tiến hành xử lý, khắc phục có hiệu quả đối với sự cố máy tính năm 2000 (Y2K) trong tỉnh (Được bộ KHCN&MT tặng Bằng khen).

- Về sở hữu công nghiệp: Mở các lớp tập huấn, phổ biến kiến thức trau dồi nghiệp vụ quản lý và hường dẫn xây dựng việc thực hiện quyền sở hữu công nghiệp cho các cơ sở, xí nghiệp sản xuất - kinh doanh trong tỉnh.

- Đã có 3 cơ sở được Cục sở hữu công nghiệp, Bộ KHCN&MT cấp quyền sở hữu cho 4 loại sản phẩm.

Hoạt động thanh tra KHCN&MT

Trong 4 năm, từ năm 1997-2000 hoạt động thanh tra, kiểm tra đã đạt một số kết quả trên các lĩnh vực sau đây:

- Thanh tra việc thực hiện Luật bảo vệ môi trường: Đã thanh tra, kiểm tra được 350 lượt cơ sở, phát hiện và xử lý 44 cơ sở. Kế hoạch năm 2001 là thanh tra, kiểm tra 100 cơ sở.

- Thanh tra việc thực hiện Pháp lệnh đo lường và Pháp lệnh chất lượng hàng hoá: Đã thanh tra, kiểm tra được 294 lượt cơ sở, phát hiện và xử lý 54 cơ sở. Kế hoạch năm 2001 thanh tra, kiểm tra 146 cơ sở.

- Thanh tra, kiểm tra và đôn đốc việc thu hồi vốn B của các đề tài, dự án KHCN: Đã thanh tra, kiểm tra được 04 lượt cơ sở, phát hiện số cơ sở vi phạm hành chính là 44 cơ sở.

- Thực hiện các cuộc thanh tra diện rộng, có sự chỉ đạo của Bộ KHCN&MT. Trong 4 năm từ năm 1997-2000 đã thanh tra, kiểm tra được 250 lượt cơ sở, phát hiện và xử lý vi phạm của 71 cơ sở .

- Công tác tiếp dân và giải quyết đơn khiếu nại - tố cáo: Đã thanh tra, kiềm tra giải quyết được 69 cơ sở, không để tồn đọng một đơn nào. Công tác thanh tra kiểm tra đã đóng góp tích cực vào các hoạt động quản lý nhà nước của ngành.

Hoạt động tư vấn và dịch vụ KHCN&MT:

Công tác tư vấn:

- Từ năm 1999 đến nay, giúp công ty đô thị thị xã Bắc Giang và một số huyện Hiệp Hoà, Lục Ngạn, Việt Yên... ứng dụng công nghệ EM vào xừ lý rác thải. Đã xử lý được 1.200 m3 năm. Nay vẫn duy trì thường xuyên và ngày càng mở rộng.

- Năm 1999, tư vấn cho UBND thị xã Bắc Giang xây dựng dự án xử lý rác thải bằng công nghệ chôn lấp của Mỹ, hiện đang chờ phê duyệt.

Triển khai các chương trình nghiên cứu ứng dụng tiến bộ KHCN

- Từ năm 1998-1999, cùng với Trung tâm khuyến nông-khuyến lâm tỉnh, triển khai thử nghiệm một số giống lạc mới như: L05, MD7, CN2, L14, L15 và nhiều giống mới khác. Một số giống lạc mới như MD7, L14 đang mở rộng trong sản xuất. Đặc biệt, giống MD7, vụ xuân 2001 đã đưa vào sản xuất với gần 100 ha ở Việt Yên, Lục Nam, Tân Yên và thị xã Bắc Giang.

- trển khai chương trình ứng dụng công nghệ trồng lạc che phủ ni lon trên tổng diện tích từ 1998-2001 là 500 ha, ở 8 huyện, thị xã (trừ Sơn Động và Lục Ngạn). Đây là chương trình có hiệu quả kinh tế, kỹ thuật cao: năng suất bình quân đạt 27-28 tạ/ha, có nơi đạt 45 tạ/ha tăng 36 - 51% so với trồng theo kỹ thuật cũ.

- Tiến hành thử nghiệm các giống lúa Tám thơm đột biến, CR203 kháng bệnh đạo ôn dòng R1, R5, D80, chịu hạn CH5 và một số giống lúa lai Bồi tạp Sơn Thanh, TG4. Những địa phương được thử nghiệm đều đánh giá tốt. Nay đang được mở rộng trên toàn tỉnh.

- Từ 1998 đến nay, tiến hành xây dựng hầm khí Biogas ở một số huyện và thị xã Bắc Giang với số lượng 350 hầm. Kết quả các hầm hoạt động tốt và rất phù hợp với các vùng làng nghề, đô thị. Đồng thời, bước đầu tiến hành xây các bếp tiết kiệm nhiên liệu và thay bể tự hoại rất phù hợp với làng nghề và đô thị.

- Thực hiện chương trình diệt chuột bằng bẫy bán nguyệt trong cả 10 huyện thị với số lượng bẫy đã sử dụng 242121 chiếc (trong đó tỉnh cấp 93.370 chiếc) kết quả đã chặn đứng được dịch chuột gây hại cho  sản xuất. Riêng năm 2000 toàn tỉnh diệt 7 triệu con chuột.

- Trong nghiên cứu thử nghiệm nhân giống cây trồng bằng công nghệ nuôi cấy mô thực vật, đã hoàn chỉnh và bước vào sản xuất trong phòng nuôi cấy mô (tại Văn phòng Sở) một số loại giống nấm; dứa, hoa. Đã đưa ra sản xuất 10.000 Cây dựa Cay en có gai và loại trơn. Tổ chức thành công việc sản xuất giống nấm tại tỉnh và chuyển giao kỹ thuật trồng nấm cho nhiều địa phương trong tỉnh.

Phối hợp với Trung tâm năng suất xanh Việt Nam (VPC) xây dựng thành công 2 làng năng suất xanh Khả Lý hạ (Quảng Minh) và Tĩnh Lộc (Nghĩa Trung), huyện việt Yên với mục tiêu đẩy mạnh việc ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn gắn với công tác bảo vệ môi trường. Đây là những mô hình điểm của toàn quốc đước nhiều địa phương trong và ngoài tính học tập. Sở đang tiếp tục chỉ đạo mở rộng mô hình này ra các địa phương khác trong tỉnh tham gia.

Triển khai tập huấn kỹ thuật chuyển giao công nghệ cho hàng trăm lớp với hàng nghìn lượt người Hợp tác phát triển KHCN và bảo vệ môi trường

  Hợp tác phát triển KHCN và bảo vệ môi trường

  Hợp tác trong tỉnh

- Với tư cách là Cơ quan thường trực của Hội đồng KHCN tỉnh, Sở đã thường xuyên đổi mới, hoàn thiện phương thức hoạt động để có thể tranh thủ được sự hợp tác rộng rãi và có hiệu quả của các cơ quan, ban ngành trong tỉnh: Đã chủ trì hoặc phối hợp cùng các ban, ngành thực hiện thành công nhiều đề tài, dự án nghiên cứu ứng dụng KHCN.

- Duy trì hoạt Động Hội đồng Thẩm định Đánh giá tác động môi trường tỉnh (từ năm 1996); Hội đồng Thẩm định Công nghệ tỉnh (từ năm 1996); Ban chỉ đạo Chương trình phát trển CNTT tỉnh (từ năm 1997); Chủ trì các đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh hàng năm về TCĐLCL hàng hoá và môi trường; Tổ chức giám định tư pháp của tỉnh; Tham gia Ban tổ chức Hội chợ triển lãm về thành tựu kinh tế - kỹ thuật, các Ban tổ chức Hội chợ của Trung ương những năm 1983, 1986, 1988, 1995 và năm 2000.

Hợp tác với các cơ quan trung ương, với tỉnh bạn và với nước ngoài

Từ những năm sau thành lập Sở KHCN&MT tỉnh (1994) và nhất là sau khi thực hiện xâydựng Chương trình phát triển KHCN của tỉnh (1996-2000), việc hợp tác với các cơ quan Trung ương; với các tỉnh bạn để triển khai những chương trình, dự án KHCN&MT như với Ban chỉ đạo quốc gia về Chương trình phát triển CNTT Văn phòng dự án hệ thống thống tin địa lý (GIS) của Bộ KHCN&MT, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường (Trường Đai học quốc gia), Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệp), Trung tâm Công nghệ cao (Viện khoa học Vật liệu) trong xây dựng mô hình ứng dụng KHCN phục vụ phát triển kinh tế nông thôn miền núi Bắc Giang (Yên Dũng, Lục Nam, Sơn Động), phối hợp với Trung tâm Năng suất xanh Việt Nam (VPC) xây dựng thành công 2 làng năng suất xanh ở Việt Yên.

Năm 1996-1999, Tổ tư vấn Kinh tế Môi trường của tỉnh (đặt tại Sở) đã có Chương trình hợp tác về bảo vệ môi trường với Viện FES (Cộng hoà Liên bang Đức) và từ năm 2000 đến nay Sở đã có chương trình hợp tác về tăng cường nắng lực quản lý môi trường với Tổ chức DED (cũng của Cộng hoà Liên bang Đức).

Năm 2001, Sở cũng phối hợp với Trung tâm Năng lượng mới (Đại học Bách Khoa Hà Nội) và Công ty FSI của Bang Nordrein-Westfalen (Đức) triển khai dự án Làng Năng lượng mặt trời ở Sơn Động. Ngoài ra, trong những năm gần đây, trung bình mỗi năm Sở đã cử 5-10 lượt người ra nước ngoài tham dự các khoá đào tạo hoặc hội thảo trao đổi về chuyên môn nghiệp vụ.

Công tác hợp tác trong và ngoài nước ngày càng được đẩy mạnh đã góp phần làm cho các hoạt động KHCN&MT trong tỉnh ngày càng sôi động và có hiệu quả.

Có thể khái quát chung về những kết quả hoạt động nổi bật của Sở KHCN&MT trong giai đoạn từ 1994, nhất là từ khi tái lập tỉnh Bắc Giang đến nay như sau:

- Xây dựng thành công mô hình quản lý hoạt động KHCN&MT phù hợp với điều kiện của tỉnh, đặc biệt là mô hình quản lý KHCN&MT ở cấp huyện. Bắc Giang là tỉnh xây dựng được sớm nhất các Trung tâm KHCN&MT cấp huyện. Hiện nay mô hình này đang phát huy tác dụng tốt.

- Đã làm tương đối tốt công tác tham mưu, tư vấn: giúp Tỉnh uỷ, UBND tỉnh ban hành được nhiều văn bản pháp qui có tác dụng tốt cho công tác quản lý nhà nước về KHCN&MT trong tỉnh, như: Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII), Thông tri về việc thực hiện Chỉ thị 36 của Bộ chính trị, Chiến lược phát triển KHCN, chiến lược BVMT, Qui chế BVMT,... Ngoài việc tham mưu cho UBND tỉnh, trong phạm vi thẩm quyền của mình, Sở cũng đã chủ động ban hành nhiều hướng dẫn, qui định, qui chế,... phục vụ tốt cho công tác quản lý nhà nước về KHCN&MT. Các hoạt động KHXH&NV phục vụ cho công tác tham mưu tư vấn về triển khai thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng các chủ trương, chính sách của tỉnh về các vấn đề như: chính sách đối với cán bộ thôn, bản; chính sách về chuyển đổi ruộng đất, chính sách về chuyển dịch cơ cấu cây trồng,... được thực hiện có kết quả tốt.

- Đưa được nhiều tiến bộ KHCN vào sản xuất và đới sống, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới được phổ biến rộng trong sản xuất như: các giống lúa thuần có năng suất cao, chất lượng khá tăng từ 20% diện tích năm 1996 lên 55-60% năm 2000, các giống cây ăn quả mới như các giống vải chín sớm, hồng Nhân Hậu, dứa Cay en, nho Pháp, ổi Đài Loan. Một số công nghệ mới được triển khai có hiệu quả rõ rệt như: trồng lạc bằng che phủ ni lon, trồng nấm ăn, diệt chuột bằng bẫy bán nguyệt, sử dụng chế phẩm EM trong xử lý môi trường, phát triển hầm khí biogas, bếp tiết kiệm năng lượng... Trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản, KHCN cũng góp phần đáng kể mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt: như sản xuất bao bì PP, PE ở Công ty nhựa Bắc Giang, sản xuất gạch ngói cổ ở Xí nghiệp Gốm sứ Bắc Giang, chế biến hoa quả ở Xí nghiệp Cơ khí Lục Ngạn; duy trì, bảo dưỡng và nâng cấp các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ của Hạt quản lý đường bộ... làm cho hoạt động KHCN đã thể hiện được vai trò động lực để phát triển KT-XH ở địa phương, tạo ra một chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của nhân dân trong tỉnh về vai trò của việc ứng dụng KHCN trong sản xuất và đời sống, làm cho người dân tin vào các giải pháp KHCN do ngành KHCN&MT triển khai. Qui mô ứng dụng các tiến bộ KHCN trên ngày càng rộng rãi.

- Những kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV đã góp phần giúp cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền, giúp cho việc làm tốt công tác xã hội hoá trong giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, thể dục thể thao và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội khác ở địa phương.

- Các hoạt động BVMT được triển khai đa dạng phong phú và rất có hiệu quả. Chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây mà nhận thức của người dân về công tác BVMT đã có những thay đổi tích cực rõ nét. Phong trào xã hội hoá công tác BVMT được phát động và được các tầng lớp nhân dân tham gia. Một số giải pháp về xử lý môi trường như tiêu huỷ thuốc bảo vệ thực vật lưu tồn, xử lý nước thải ở các cơ sở sản xuất giấy và bột giấy... đem lại hiệu quả rõ. Xây dựng được những mô hình hoạt động một cách sáng tạo về BVMT, như các HTX NS-VSMT, các làng ''năng suất xanh'', các câu lạc bộ phụ nữ làm công tác VSMT. Đây là những điển hình không chỉ là của tỉnh mà còn là những điển hình tiên tiến toàn quốc, được nhiều địa phương trong tỉnh và tỉnh bạn đến học tập.

- Các hoạt động quản lý nhà nước về TCĐLCL được thực hiện tốt: Công tác hướng dẫn về quản lý chất lượng hàng hoá, thực hiện các hệ thống quản lý chất lượng được quan tâm thực hiện; việc thanh, kiểm tra, hướng dẫn người tiêu dùng về chất lượng hàng hoá, nhất là trong dịp tết nguyên đán được thực hiện tốt; hàng năm đã kiểm định được hàng chục ngàn phương tiện đo; mạng lưới cộng tác viên về đo lường, chất lượng ngày càng được mở rộng và củng cố; hệ thống cân đối chứng lần đầu tiên được thiết lập và đang phát huy hiệu quả tốt, được người dân hoạnh nghênh.

- Công tác thanh tra, kiểm tra về KHCN&MT được thực hiện có kết quả góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiễn vụ quản lý nhà nước về KHCN&MT của đơn vị. Hầu hết các vụ việc khiếu kiện về KHCN&MT đều được giải quyết dứt điểm, không để bị tồn đọng.

- Các hoạt động thông tin KHCN&MT được liên tục đổi mới và hoạt động ngày càng phong phú. Các thông tin do các xuất bản phẩm của Sở đưa ra ngày càng được đánh giá cao và được người dùng tin dùng. Chương trình phát triển CNTT phục vụ công tác quản lý nhà nước, quản lý, giám sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường; phát triển hệ thống thông tin liên lạc tuy chưa được đầu tư đáng kể, song hiệu quả hoạt động khá tốt; sự cố Y2K được xử lý tốt, được BCĐ Quốc gia về phát triển công nghệ thông tin đánh giá cao.

- Các hoạt động đào tạo, tư vấn, dịch vụ chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế cũng được hết sức chú trọng, tạo ra một sự chuyển biến rõ rệt, góp phần đáng kể trong việc tạo tiềm lực ngày càng lớn mạnh./.

 

Dựa theo cuốn 50 năm xây dựng và phát triển của

Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Giang (19/10/1961 – 19/10/2011)